Bệnh sử:
Thường không có triệu chứng
Có thể đau từ nhẹ tới trung bình khi ăn nhai
Chảy máu tại chỗ khi sờ hay khi bị chấn thương
Có thể liên quan tới sâu răng hay gãy răng
Tủy triển dưỡng đạt đến kích thước tối đa chỉ trong vòng 2 tháng và sau đó không thay đổi
Răng thường không lung lay, và không đau kh gõ
Dò mủ không phải dấu chứng đặc biệt
Biểu hiện lâm sàng:
U mô mềm lỗ rỗ nhô ra từ xoang sâu hay bề mặt răng gãy (HÌnh 1)
Bề mặt thay đổi từ hồng và nhẵn đến đỏ, trắng và có hột
U chiếm toàn bộ xoang sâu hay buồng tủy
Mô mềm có thể nhập với mô nướu lân cận
U thường phát triển ở răng cối sữa và răng cối vĩnh viễn vì có buồng tủy lớn
U thường đơn độc nhưng có thể có ở nhiều răng
Thường xảy ra ở răng chưa đóng chóp

Hình 1.Polyp tủy còn gọi là viêm tủy tăng sinh. Răng có polyp tủy thường bị sâu gây mất quá nhiều tổ chức răng nhưng tủy vẫn sống và tăng sinh từ vị trí lộ tủy
Phân biệt:
u hạt sinh mủ (Pyogenic granuloma)
U sợi kích thích ( irritation fibroma)
U sợi sinh xương ngoại vi (Peripheral ossifying fibroma)
U hạt tế bào khổng lồ ngoại vi (Peripheral giant cell granuloma)
Epulis
Apxe mô mềm
Chẩn đoán hình ảnh
XQ trong miệng, đặc biệt phim quanh chóp là cần thiết để chẩn đoán mức độ phá hủy răng và sự liên quan tới mô lân cận
Tổn thương sâu răng lan đến buồn tủy, tình trạng chóp răng đóng hay mở
Thường thì không có thay đổi ở xương, nhưng có thể phát hiện thấu quang quanh chóp mới phát mà thường là viêm quanh chóp mạn hay viêm xương tủy xơ hóa trung tâm (focal sclerosing osteomyelitis), viêm xương tụ cốt (condensing osteitis)
Hình ảnh XQ cần để xác định cách điều trị thích hợp
THỬ NGHỆM KHÁC
Kết quả thử nghiệm gõ, nhiệt, điện ở viêm tủy tăng sản giống như một răng bình thường
Không nên nhầm lẫn giữa một viêm tủy tăng sản với mô tủy bình thường và vì vậy chỉ cần điều trị bảo tồn với viêm nướu triển dưỡng mà nó cũng nằm trên xoang sâu của răng đã chết tủy
MÔ HỌC
Trong hầu hết các trường hợp mô học chỉ thay đổi ở phần tủy thân, phần tủy chóp răng có giãn nhẹ với viêm mạn tối thiểu
Mô học viêm tủy ở răng bị gãy do chấn thương
Mô viêm tủy răng sản nhô lên trên đường gãy (hình 1c). Trên bề mặt mô tủy nhô ra lên trên này không có biểu mô che phủ, có sự tăng sinh mao mạch và thâm nhiễm bạch cầu đa nhân. Có nhiều ổ áp xe nhỏ trong mô viêm tủy tăng sản (hình 1d), có sự thâm nhiễm tế bào viêm mạn ngay dưới đường gãy (Hình 1e), nhưng mô tủy ở thân răng thì bình thường với mạch máu dãn rộng (hình 1f)
Vách ngà tại đường gãy có nhiều polyp tủy và vi khuẩn. Hầu hết vi khuẩn là Gr+, xâm nhập sâu vào ngà.
.
Hình 1:
Mô học viêm tủy tăng sản ở mô sâu
Bề mặt viêm tủy tăng sản nhô lên trên có biểu hiện mô hóa. polyp tủy bao gồm các mao mạch tăng sinh, thâm nhiễm dày đặc bạch cầu đa nhân và nhiều ổ áp xe nhỏ. (Hình 2c). Tủy thân có sự vôi hóa bất thường, có khuynh hướng tách rời giữa polyp tủy với tủy chân tại lỗ vào ống tủy (orifice). Mô tủy vẫn tiếp tục với polyp tủy thông qua nhiều kênh có các đường kính khác nhau chạy xuyên qua ổ vôi hóa này (Hình 2d). Phần tủy chân ở 1/3 giữa ngay dưới mô vôi hóa và mô tủy 1/3 chóp có ít mạch máu hơn và nhiều mô sợi hơn, không có tế bào viêm. Phần tủy ở chóp bình thường gồm có các sợi thần kinh. Vôi hóa bất thường lan rộng đến 1/3 chóp của chân ngoài gần ở các răng ngắn. Mặc dù, chân răng chưa hình thành hoàn chỉnh, dây chằng nha chu bình thường, không có dấu hiệu tiêu chân răng trên XQ, nhưng có sự tiêu ngà và cement trên bề mặt chóp chân răng (hình 2e). Hơn nữa, mô tủy chân răng hóa sợi cùng với nhóm sỏi tủy có kích thước khác nhau (hình 2f). Trên bề mặt của polyp tủy, ở những vị trí lở loét gây mất biểu mô thì có các khúm vi khuẩn Gr +. Không có vi khuẩn ở phần tủy chân và mô quanh chóp



