PHÔI-MÔ HỌC VÀ VẤN ĐỀ DI CHUYỂN RĂNG

Do các răng bám vào xương ổ nhờ dây chằng nha chu, nên khi thực hiện
ch
ức năng, một bộ răng có khớp cắn bình thường chịu những dịch chuyển
sinh lý
.
Nh
ững dịch chuyển sinh lý còn được gây ra do những lực yếu, gián đoạn và
t
ạm thời hay liên tục của cơ (hệ thống môi, má, lưỡi và các cơ hàm) hoặc
c
ủa các răng đối kháng trong lúc cắn, nhai, nuốt và các lực cận chức năng
(nghi
ến, siết chặt răng… ). Các lực này có xu hướng triệt tiêu lẫn nhau để
duy trì trạng thái cân bằng động của hệ thống nhai.
D
ịch chuyển răng sinh lý kích thích quá trình tái cấu trúc mô nha chu
nh
ưng không làm thay đổi vĩnh viễn vị trí răng. Do đó dịch chuyển răng
sinh lý
cần được phân biệt với các di chuyển răng sinh lý và di chuyển răng
do ch
ỉnh hình: Di chuyển răng sinh lý và di chuyển răng do chỉnh hình làm
thay đổi vĩnh viễn vị trí răng và có cùng cơ sở sinh học.
- Trong di chuy
ển răng sinh lý, vị trí răng trong xương ổ thay đổi
ch
ủ yếu theo hai hướng: phía gần (di gần) và phía nhai (trồi mặt
nhai).
- Trong di chuy
ển răng do chỉnh hình, vị trí răng có thể thay đổi
h
ầu như theo bất kỳ hướng nào, được thực hiện bởi những lực
nhân t
ạo có thể thay đổi cường độ thông qua các khí cụ chỉnh
hình.
I. C
Ơ SỞ SINH HỌC CỦA SỰ DI CHUYỂN RĂNG
Để làm thay đổi vị trí vĩnh viễn răng trong xương ổ, toàn bộ hệ thống răng-mô
nâng
đỡ phải được tái cấu trúc. Quá trình tái cấu trúc này đòi hỏi kích hoạt một
lo
ạt tế bào khác nhau, có chức năng tái tạo để đưa đến sự đổi mới sinh lý. Những
mô tham gia vào quá trình
đó là xương ổ (đặc biệt là xương ổ chính danh và những
bè x
ương nâng đỡ trong xương xốp), dây chằng nha chu, nướu và xê măng, nghĩa
là toàn b
ộ các cấu trúc của nha chu.
C
ả di chuyển răng sinh lý lẫn di chuyển răng do chỉnh hình cần phải có sự phối
h
ợp đồng bộ, phức tạp và điều hòa sinh học của một số hoạt động sau :
1. S
ự đổi mới sinh lý của xương:
Quá trình này do nh
ững tế bào của hệ thống sinh xương (tế bào tiền sinh xương,
t
ạo cốt bào, tế bào xương và hủy cốt bào) đảm nhiệm.
Trên chuột, chu kỳ tái cấu trúc gồm 1,5 đến 2,3 ngày tiêu xương; 3,5 đến 4 ngày
tái t
ổ hợp tế bào và 1 ngày tái tạo, trong đó lượng xương bị lấy đi trước đó phù
h
ợp với lượng xương được bồi đắp sau này (Tran Van. P., 1982).
Trong su
ốt quá trình này, sợi Sharpey hoặc bị đứt và sau đó tái tạo và tái bám
dính, ho
ặc vẫn còn nguyên trong khi xương được tái cấu trúc. Sự hình thành sợi
Sharpey m
ới phù hợp với sự hình thành xương mới, khi đó nguyên bào sợi của
màng nha chu thoái hóa t
ừ xương đang hình thành trước đo (Garant, P.R., 1976;
Kurihara, S., 1980).
2. Sự chuyển đổi sinh lý của dây chằng nha chu:
Bao g
ồm việc thay thế những sợi Sharpey bám vào xương và sự hình thành
x
ương mới bám vào xê măng; Sự đứt sợi nha chu cũ, đặc biệt là ở vị trí gần
x
ương đang tiêu thông qua đại thực bào và tiêu hủy nội tế bào bởi nguyên
bào s
ợi
3. S
ự tái cấu trúc sinh lý của mô liên kết nướu:
Tùy thu
ộc vào hoạt động của nguyên bào sợi ở nướu, đặc biệt là sự phối hợp
liên t
ục của quá trình tổng hợp và lấy đi các sợi collagen.
4. Sự bồi đắp xê măng:
Xê m
ăng được bồi đắp là xê măng sợi ngoại sinh không tế bào, có sự tăng
chi
ều dày do khoáng hóa từng lớp các bó sợi nha chu kế cận (bó sợi
Sharpey).
Xê măng sợi nội sinh có tế bào được lắng đọng theo kiểu đắp thêm từng chỗ
(sau thời kỳ tiêu xê măng), sau đó lớp xê măng mới có sợi ngoại sinh không
t
ế bào phủ lên chỗ đắp thêm này.
Quá trình này làm
dày lớp xê măng sợi hỗn hợp có tế bào.
Tất cả hệ thống trên phải được hoạt động tự do, không bị giới hạn do các can
thi
ệp điều trị. Nếu dùng lực quá mức trong khi chỉnh hình, sẽ dẫn đến hoại tử,
m
ột số thành phần của hệ thống này sẽ ngừng hoạt động và quá trình di chuyển
r
ăng, cũng có nghĩa là quá trình tái cấu trúc sẽ bị kéo dài và gây biến chứng
II. S
Ự DI GẦN VÀ TRỒI MẶT NHAI
2.1. S
ự di gần
“Di gần” là thuật ngữ do Stein và Weinmann đặt ra vào năm 1925, nó có
ngh
ĩa là các răng trên một cung răng toàn vẹn, (cả răng sữa và răng vĩnh viễn), di
v
ề phía giữa cung răng, làm cho vị trí của các răng ngày càng về phía gần hơn
cùng v
ới sự tăng lên của tuổi tác.
Nguyên nhân
cơ bản của sự di gần là do mòn men răng ở các vùng tiếp xúc
m
ặt bên. Các điểm tiếp xúc rộng ra thành những vùng tiếp xúc. Sự mất men được
bù tr
ừ bởi sự di gần, nhờ vậy, tất cả các răng vẫn tiếp xúc nhau, còn chiều dài của
cung r
ăng thì giảm.
Mức độ ngắn lại của cung răng khác nhau giữa các nhóm cư dân và theo
các giai
đoạn văn minh khác nhau: Ở sọ người Au vào thời Trung Đại và thổ dân
Uc, ng
ười ta đo được sự giảm chiều dài 5-8mm, còn ở người Tây Au hiện đại,
cung r
ăng ngắn đi 0,3mm trong 9 năm và chỉ thấy ở phần răng sau. Từ những dữ
liệu này và nhiều dữ liệu khác, người ta tính được trung bình mất men mặt bên,
c
ũng có nghĩa là sự di gần, ở mỗi khoảng kẽ răng là 1-10 µm 1 năm (Begg, P.R.,
1954; Lysell, L., 1958; Lammie, G.A., 1965; Yilmaz, R.S., 1980).

Quá trình tái cấu trúc thể hiện rõ nhất trong khi di gần diễn ra ở xương ổ và
các
bè xương xốp nâng đỡ: bề mặt xương phía gần của chân răng có dấu hiệu tiêu
x
ương; bề mặt ở phía xa của răng có sự đắp xương (h. 9.5).
Có thể thấy rõ vùng tiêu xương do có nhiều lỗ tiêu xương trên bề mặt xương ổ,
có s
ự hiện diện tế bào hủy xương và sự gián đoạn của những đường nghỉ phân
cách các phi
ến xương cũ với nhau do tiêu xương.
Nh
ững vùng đắp xương đặc trưng bởi sự lắng đọng các xương bó theo thứ tự. Sự
tiêu xương và lắng đọng các xương bó không chỉ giới hạn ở bề mặt xương ổ kế
cận dây chằng nha chu hay xương xốp mà còn xảy ra theo hướng xa-gần trên tất
c
ả các bè xương xốp trong vách xương giữa các răng và giữa các chân răng.
X
ương bó có hình ảnh mô học đặc trưng, sau đó được thay bằng các xương dạng
phi
ến trong quá trình tái cấu trúc sinh lý của xương. Sự thay thế này xảy ra trên
b
ề mặt xương ổ đối diện với khoảng xương tủy, còn các xương bó mới thì lắng
đọng ở phía dây chằng nha chu do vẫn có sự di gần. Kết quả của các hoạt động
này là h
ốc xương ổ và vách xương ổ di về phía gần. Có thể ước lượng khoảng di
chuy
ển của xương ổ từ chiều dài của các bó sợi nằm trong xương bó.
Cùng với tái cấu trúc xương, dây chằng nha chu và mô liên kết của nướu
cũng được tái cấu trúc và tái định vị. Xê măng trở nên dày hơn nhờ sự lắng đọng
thêm các l
ớp xê măng có tế bào.
Quá trình tái s
ắp xếp trong mô liên kết của dây chằng nha chu và nướu khó
quan sát
được qua sự thay đổi về cấu trúc vì không thể nhận biết được sự thay đổi
trong cách s
ắp xếp của các thành phần cấu trúc của chúng. (Có một ngoại lệ là sự
hiện diện của tế bào biểu mô Malassez còn sót lại, tế bào này không tham gia vào
s
ự thay đổi cấu trúc và do đó thường vẫn còn tồn tại). Trên một răng bị trồi mặt
nhai
đáng kể, vẫn có thể thấy các tế bào này trong khoảng tủy xương gần đáy ổ
xương.
Cơ sở của lực di gần là sự hiện diện của hệ thống sợi trên xương ổ, đặc biệt là sự
co lại của các sợi ngang vách của mô nha chu viền. Nếu hệ thống sợi giữa các
r
ăng bị cắt đứt hay nếu lấy bỏ đi toàn bộ mô nướu giữa các răng, sự di gần sẽ
chậm lại rất nhiều. Sau khi thử nghiệm bỏ đi điểm tiếp xúc, các răng kế nhau bị
kéo lại gần nhau với nhịp độ 25 µm trong 2 giờ. Do đó các sợi ngang vách và các
t
ế bào đóng một vai trò rõ rệt. Các sợi ngang nướu, sợi vòng, sợi nửa vòng và sợi
gian n
ướu cũng có thể góp phần quan trọng. Nếu nhổ đi một răng trên cung răng
còn nguyên thì các s
ợi ngang vách sẽ nối lại qua khoảng mất răng và răng ở phía
xa c
ủa khoảng mất răng sẽ nghiêng dần về phía gần.
2. Sự trồi mặt nhai
Trong khi s
ự di gần cho thấy sự tái định vị sinh lý của răng theo chiều ngang
thì s
ự trồi mặt nhai bù trừ cho sự mất men do mòn mặt nhai của các răng đối diện
nhau. N
ếu sự di chuyển mặt nhai diễn ra tương đối nhanh thì sự điều tiết vị trí mới
c
ủa răng đặc trưng bởi sự kết hợp bồi đắp xương ở đáy ổ xương và dày lên của xê
m
ăng ở chóp chân răng.
Ơ đây, cũng như trong trường hợp di gần, các lớp xương bó hiện diện trên bề mặt
x
ương ổ phía dây chằng nha chu. Sự lắng đọng xê măng sợi hỗn hợp có tế bào
góp ph
ần làm dày xê măng ở chóp đồng thời kéo dài chân răng. Sự đắp thêm xê
m
ăng và xương này có thể xem là kết quả (hơn là nguyên nhân) của sự trồi mặt
nhai.

Hình 9. 6 cho thấy kết quả của vài chục năm mất men ở mặt bên và mặt
nhai, s
ự di gần và sự trồi mặt nhai.
III.PH
ẢN ỨNG CỦA MÔ NHA CHU VỚI CÁC LỰC ĐIỀU TRỊ
Người ta đã nghiên cứu phản ứng của mô nha chu với lực chỉnh hình từ đầu thế
kỷ 20. Vì trong khoang kẽ răng, dây chằng nha chu có sự sắp xếp độc đáo là nằm
gi
ữa hai mô cứng (xê măng và xương ổ), nên loại phản ứng và tốc độ phản ứng
ph
ụ thuộc chủ yếu vào cường độ của lực qua răng đến các phần của dây chằng
nha chu. C
ường độ của lực được xác định bằng tổ hợp của chiều dài của phần tác
động (khoảng cách lực tác động), độ mạnh (tiềm lực ban đầu) và thời gian lực tác
động. Schwarz đã nói về các mức cường độ sinh học mà một lực chỉnh hình phải
đạt đến nhưng không được vượt quá; Ong đã chỉ ra lực tối ưu về mặt sinh học
không nên vượt quá huyết áp mao mạch (20-24 g/cm2). Reitan, K., (1951, 1960,
1969)
đã nêu những chi tiết về cơ sở để hiểu biết phản ứng của mô với lực chỉnh
hình.
Quá trình tái sắp xếp cần thiết cho sự di chuyển răng trong chỉnh hình thoạt
tiên gi
ống như quá trình diễn ra trong sự di gần sinh lý. Tuy nhiên, sự tái sắp xếp
trong quá trình r
ăng di chuyển trong điều trị diễn ra nhanh hơn và theo nguyên tắc
thì quá trình này ph
ải cho phép răng ở một vị trí khác có khoảng cách xa hơn là sự
di răng sinh lý. Loại tái sắp xếp nhanh và mạnh này có nhiều nguy cơ, như hoại tử
dây chằng nha chu và tiêu chân răng. Mức độ của các nguy cơ liên quan đến loại
di chuy
ển (nghiêng, tịnh tiến, xoay), cách thức và thời gian (gián đoạn, liên tục)
của lực, kích thước của vùng bám dính mà quá trình tái sắp xếp xảy ra.
Trong di chuy
ển răng do chỉnh hình, những vùng ép và vùng căng được tạo
thành trong dây ch
ằng nha chu. Những vùng này có vị trí và kích thước thay đổi
tùy theo
loại di chuyển.
3.1. Di chuyển nghiêng và di chuyển tịnh tiến
- Trong
di chuyển nghiêng, vùng ép và vùng căng nằm song song
v
ới trục chân răng, với lực tối đa ở mào xương ổ và gần chóp
chân r
ăng, lực tối thiểu gần vùng tâm xoay của trục răng (h.
9.7).
- Trong
di chuyển răng tịnh tiến, có những vùng ép và vùng căng
v
ới cường độ ít nhiều bằng nhau dọc suốt bề mặt chân răng.
Trong vùng ép có sự tiêu xương còn vùng căng có sự đắp xương; cần phân
bi
ệt quá trình tiêu xương trực tiếp và gián tiếp:
*
Tiêu xương ổ trực tiếp xảy ra ở vùng nha chu dưới lực nhẹ, khi đó tuần
hoàn máu không b
ị giới hạn hay gián đoạn và hoạt động của tế bào vẫn duy trì (h.
9.8a). Trong tr
ường hợp này thấy tăng hoạt động tế bào ở vùng ép và vùng căng
ch
ỉ sau 12 giờ từ khi bắt đầu tác dụng lực.
Tùy theo loại kích thích (chấn thương, lực chỉnh hình) mà nguyên bào sợi hay
nguyên bào s
ợi và nguyên bào xương sẽ chiếm đa số. Trong vòng 24 giơ, tế bào
h
ủy xương xuất hiện ở bề mặt xương ổ phía dây chằng nha chu ở vùng ép; trong
36 gi
ờ một dãy nguyên bào xương xuất hiện ở bề mặt xương ổ ở vùng căng. Mật
độ của nguyên bào xương mới đạt tối đa trong 70 giờ (Yee, J.A., 1976). Sau 2-4
ngày x
ụất hiện một viền dạng xương ở vùng căng, nghĩa là sự đắp xương đã bắt
đầu. Trong vùng căng, một phần của các sợi dây chằng nha chu nằm trong những
l
ớp xương mới tạo thành xương bó. Khi làm tăng tốc độ di chuyển răng trong
ch
ỉnh hình (gần gấp đôi) bằng cách tiêm prostaglandin E1 tại chỗ, sự mất xương
đạt đến tốc độ tối đa, có thể vượt quá tốc độ tạo xương (Yamasaki, K., 1984). Ở
chuột, quá trình này đạt tối đa sau 22 giờ.
*Tiêu xương ổ gián tiếp
L
ực quá mức không sinh lý tạo ra những vùng hoại tử (trước đây gọi là vùng
hyalin hóa) trong dây chằng nha chu ở những vùng chịu lực ép tối đa. Những vùng
ho
ại tử trong dây chằng nha chu đa số xảy ra khi răng di chuyển nghiêng, và có thể
do lực liên tục không lớn hơn 25g gây ra.
Hoại tử bắt đầu trong 2 giờ đầu sau khi áp dụng lực và tiếp sau đó là một quá
trình không hoàn nguyên:
Ch
ỉ 30 phút sau khi dùng lực đã thấy những thay đổi trong bào tương (ti thể phù
n
ề, mạng lưới nội bào mở rộng chỗ chứa) trong những tế bào của dây chằng nha
chu (nguyên bào s
ợi và tế bào biểu mô); tuần hoàn máu ứ đọng.
Kho
ảng 2 giờ sau, mức độ trầm trọng của những thay đổi này tăng lên: Xuất hiện
nh
ững không bào lớn trong bào tương, màng tế bào bị đứt đoạn và nhân tế bào
thoái hóa hay b
ị phân hủy. Nếu lực này không ngừng lại sau 2 giờ, tất cả tế bào ở
vùng này, kể cả tế bào thành mạch máu sẽ chết.
Nh
ững điều trên thấy được từ những nghiên cứu ở chuột, bổ sung cho những
quan sát th
ực nghiệm ở răng người chịu lực 70-100g từ 2-50 ngày:
2 ngày sau khi b
ắt đầu tác động, hoại tử đã vượt quá giai đoạn ban đầu, có nghĩa
là không th
ể hoàn nguyên được. Vùng ép bị hoại tử chứa di tích của nhân tế bào
b
ị tách khỏi bào tương của chúng và đã bị phân hủy một phần. Các thành mạch
máu c
ũng bị phá hủy. Các sợi collagen của dây chằng nha chu vẫn còn dài
nguyên v
ẹn. (Vẫn có thể thấy rõ hầu hết các đoạn ngang 50-80 nm và các vân
ngang c
ủa chúng ở khoảng cách 64 nm 20 ngày sau khi bắt đầu dùng lực).
10 ngày sau khi b
ắt đầu dùng lực, các bó sợi đã bị đứt thành những đoạn riêng rẽ,
nh
ưng chỉ sau đó các sợi collagen mới từ từ bị tách ra theo trục dọc của chúng và
m
ất đi.
Ở vùng bị ép trong thử nghiệm trên dây chằng nha chu của người, mô sẽ chết sau
2 ngày dùng l
ực (Rygh, P., 1972, 1973; Roberts, W.E., 1981).
Xương ổ kế cận với vùng dây chằng nha chu hoại tử không thể tiêu đi một
cách tr
ực tiếp mà phải tiêu gián tiếp dần dần. Sự tiêu xương này xảy ra từ vùng
t
ủy xương của xương xốp kế cận (ở đó vẫn có hoạt động tế bào) (h. 9.8b). Do đó
x
ương ổ nằm gần vùng ép hoại tử bị tiêu theo chiều ngược lại. Tùy thuộc vào mức
độ hoại tử mà cần khoảng 1-2 tuần để phần xương ổ tiêu đi và phần mô dây chằng
nha chu ho
ại tử mất đi. Trong thời gian này, sự di chuyển do chỉnh hình ngừng lại.
Khi x
ương ổ đã mất đi, có sự di chuyển thình lình, sau đó là tiếp tục di chuyển
ch
ậm và liên tục. Hầu hết phần mô bị hoại tử trong giai đoạn dùng lực ban đầu sẽ
mất đi hoàn toàn trong vòng 3 tuần sau khi dùng lực. Cho đến lúc này, dây chằng
nha chu m
ới và xương ổ mới sẽ không được tạo thành.
Trong tiêu x
ương gián tiếp, phần tủy xương xốp tạm thời chuyển thành mô
liên k
ết, các bè xương được tạo thành và mất đi dọc theo đường áp lực ở trong
vách x
ương giữa các răng và giữa các chân răng.
Ít khi th
ấy dây chằng nha chu bị hoại tử ở vùng căng: Đầu tiên hình thành những
khoang l
ớn trong mô và nguyên bào sợi sắp xếp dọc theo đường căng. Khoảng
30-50 gi
ờ sau khi áp dụng lực, mật độ tế bào trong dây chằng nha chu đã tăng
đáng kể do sự sinh sản của nguyên bào sợi và các tế bào tiền sinh xương. Sau vài
ngày, xu
ất hiện một viền dạng xương, trên bề mặt của nó có một hàng nguyên
bào x
ương. Các sợi dây chằng nha chu đi qua giữa những tế bào này và sẽ chôn
trong x
ương mới tạo (h. 9.8c). Những lớp xương mới được tạo song song với bề
mặt xương ổ cũ. Các lực gián đoạn làm chậm quá trình tái sắp xếp, do đó tốc độ
bồi đắp xương chậm hơn khi dùng lực liên tục.
3.2. Xoay răng
Khi xoay một răng, hình dạng chân răng sẽ quyết định mức độ và vị trí vùng căng
và vùng ép. Lo
ại di chuyển này có sự tái sắp xếp rất nhiều. Thường thấy có sự hình
thành t
ạm thời của các gai xương dọc theo các sợi dây chằng nha chu bị kéo dài.
Sau khi s
ự xoay hoàn tất, các gai xương được thay thế bằng xương dạng phiến.
Di chuyển xoay cần có sự tái sắp xếp rất nhiều các sợi collagen trong dây chằng
nha chu và n
ướu. Đầu tiên các sợi cũ bị di chuyển trong khi xoay phải bị phân
h
ủy và thay thế bằng những sợi mới đi từ xê măng đến xương ổ. Sự thay thế này
c
ần nhiều thới gian hơn là sự tái cấu trúc xương ổ và xương xốp. Quan sát thực
nghi
ệm cho thấy các sợi dây chằng nha chu được thay thế hoàn toàn sau khi đã
hoàn t
ất di chuyển xoay khoảng 1-3 tháng. Các sợi ở nướu cần thời gian tái sắp
x
ếp khoảng một hay nhiều năm. Do đó răng đã xoay cần được duy trì lâu dài ở vị
trí mới. Nếu sự tái sắp xếp các sợi nướu chưa hoàn tất, răng sẽ từ từ xoay về vị trí
c
ũ sau khi đã bỏ khí cụ duy trì. Trong tất cả các quá trình tái sắp xếp do chỉnh
hình, h
ệ thống sợi oxytalan vẫn duy trì và tương ứng với hình dạng thay đổi, ở
vùng ép cũng như vùng căng, bằng cách tái sắp xếp liên tục.
3.3. Sự tiêu chân răng trong chỉnh hình
Thông th
ường, trong di chuyển răng và tái sắp xếp do chỉnh hình, chân răng
c
ũng bị tiêu ngót, khi đó cả xê măng và vùng ngà nông bị mất đi do hoạt động của
t
ế bào hủy ngà. Có hai dạng tiêu chân răng:
3.3.1. Tiêu ngót m
ặt bên
Ở mặt bên của chân răng, nhất là xung quanh vùng hoại tử của dây chằng nha chu,
có s
ự tiêu ngót dạng hốc tổ ong vơí nhiều kích thước khác nhau. Đầu tiên, những
h
ốc này có đường kính khoảng 6 µm, sau đó các hốc hợp lại tạo thành hốc rộng vài
mm. (
Đặc biệt, khi chỉnh hình nới rộng nhanh hàm trên, xuất hiện những hốc tiêu
x
ương rất rộng). Trong vài tháng sau khi hoàn tất chỉnh hình, các hốc tiêu ngót này
được lấp đầy bằng chất dạng xương (từ xê măng sợi nội sinh có tế bào), sau đó
được bao phủ bởi xê măng sợi ngoại sinh không tế bào. Về mô học, pha hoạt động
tiêu ngót
đặc trưng bởi nhiều tế bào hủy ngà nằm trong hốc Howship.
Trong giai đoạn ngừng tiêu ngót, không thấy tế bào hủy ngà, bờ dạng xê măng,
c
ũng như nguyên bào xê măng. Bề mặt dạng tổ ong của các hốc tiêu ngót được
bao ph
ủ bởi mô dây chằng nha chu nhưng không có sự bám dính của các sợi
Sharpey. Trong giai
đoạn sửa chữa có thể thấy một bờ viền chất dạng xê măng,
nguyên bào xê m
ăng được sắp xếp ở bề mặt của các hốc tiêu ngót và xê măng sợi
n
ội sinh sửa chữa mới tạo. Đầu tiên các sợi dây chằng nha chu không nằm chôn
trong xê m
ăng sửa chữa. Chỉ ở giai đoạn sau này, khi bề mặt của xê măng sợi nội
sinh s
ửa chữa được bao phủ bởi xê măng sợi ngoại sinh không tế bào thì mới có
s
ự tái bám dính của các sợi mới.
Như vậy, việc sửa chữa bề mặt chân răng dẫn tới các kết quả sau:
- Các h
ốc tiêu xương được lấp đầy hoàn toàn,
- B
ề mặt chân răng tái lập sự liên tục,
- H
ệ thống sợi của dây chằng nha chu tái bám dính.
Lo
ại lành thương này gọi là sửa chữa giải phẫu, khác với sửa chữa chức năng,
trong
đó các hốc tiêu ngót chỉ được lấp đầy một phần, các sợi dây chằng nha chu
bám vào b
ề mặt của các chỗ lõm nông, và xương ổ được bồi đắp dày hơn để tái
l
ập độ rộng sinh lý của khoảng dây chằng nha chu.
3.3.2. Tiêu ngót vùng chóp
D
ạng thứ hai của tiêu chân răng là ở chóp chân răng, làm cho chân răng ngắn đi
v
ĩnh viễn thấy được trên phim X quang. Chân răng ngắn đi không hoàn nguyên
c
ũng có thể thấy ở người chưa bao giờ điều trị chỉnh hình. Sự tiêu chân răng không
do
điều trị có thể thấy ở 22% người trưởng thành ở 70-80% răng của họ và ngày
càng t
ăng cùng với tuổi, làm cho chân răng ngày càng ngắn đi và trở nên tròn ra.
Các r
ăng hàm trên, đặc biệt là răng cửa giữa và cửa bên, răng cối nhỏ thứ 2 và cối
l
ớn thứ nhất, bị ảnh hưởng nhiều hơn các răng hàm dưới (Massler, M., 1954; Hotz,
R., 1967). M
ức độ tiêu chóp chân răng rất khác nhau ở mỗi người, cho thấy
khuynh h
ướng khác nhau ở mỗi người đối với tình trạng này

 

Không có đánh giá nào cho sản phẩm này.

Viết đánh giá

Chú ý: Không sử dụng các định dạng HTML!
    Chưa tốt           Tốt

Sản phẩm liên quan (4)

© Copyright 2025-2026 Big Dental. Thiết kế bởi Zozo

Đăng ký nhận tin

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được các thông báo về khuyến mại, chương trình giảm giá của chúng tôi

Địa chỉ

Big Dental

0396931640